Tạp chí Fortune của Mỹ vừa công bố danh sách thường niên 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới (Global 500). “Đế chế” bán lẻ Wal-Mart vẫn đứng đầu bảng, nhưng dầu lửa mới là ngành công nghiệp chiếm ưu thế tuyệt đối trong top 10.
Đáng chú ý, Trung Quốc đóng góp tới 3 cái tên trong số 10 doanh nghiệp lớn nhất, trong khi Nhật Bản chỉ có 2 công ty lọt vào nhóm này.
Dưới đây là 10 công ty dẫn đầu Global 500 năm 2011:
1. Wal-Mart
Vị trí xếp hạng: 1 (Vị trí xếp hạng năm 2010: 1)
CEO: Michael T. Duke
Số nhân viên: 2.100.000
Quốc gia: Mỹ
Doanh thu năm 2010: 421,849 tỷ USD (tăng 3,3% so với 2009)
Lợi nhuận: 16,389 tỷ USD (tăng 14,3% so với 2009)
Tài sản: 180,663 tỷ USD
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu: 4%
Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản: 9,1%
Đây là năm thứ hai liên tục Wal-Mart chiếm ngôi đầu của danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất nước Mỹ (Fortune 500) và cả Global 500. Wal-Mart được đánh giá cao ở mục tiêu theo đuổi sự phát triển doanh nghiệp bền vững, nhưng cũng bị cho là phân biệt đối xử với nhân viên nữ và đang dính đơn kiện liên quan tới vấn đề này. Kinh tế Mỹ khó khăn đang gây trở ngại cho Wal-Mart, với doanh thu các cửa hàng Wal-Mart tại thị trường Mỹ giảm quý thứ 8 liên tục.
2. Royal Dutch Shell
Vị trí xếp hạng: 2 (Vị trí xếp hạng năm 2010: 2)
CEO: Peter R. Voser
Số nhân viên: 97.000
Quốc gia: Hà Lan
Doanh thu năm 2010: 378,152 tỷ USD (tăng 32,6%)
Lợi nhuận năm 2010: 20,127 tỷ USD (tăng 60,8%)
Tài sản: 322,56 tỷ USD
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu: 5%
Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản: 6,2%
Từ đầu năm tới nay, giá cổ phiếu của Shell đã tăng 7,2%. Trong bối cảnh dầu lửa ngày càng khó tìm, Shell đang thúc đẩy lĩnh vực năng lượng thay thế, tiêu biểu là vụ hợp tác với công ty xăng sinh học Cosan của Brazil hồi năm ngoái. Shell còn đang phát triển công nghệ để xây dựng nhà máy khí hóa lỏng nổi trên biển đầu tiên nhằm đạt lợi thế khi tiếp cận các mỏ dầu ở vùng nước sâu.
3. ExxonMobile
Vị trí xếp hạng: 3 (Vị trí xếp hạng năm 2010: 3)
CEO: Rex W. Tillerson
Số nhân viên: 103.700
Quốc gia: Mỹ
Doanh thu năm 2010: 354,674 tỷ USD (tăng 24,6%)
Lợi nhuận năm 2010: 30,46 tỷ USD (tăng 58%)
Tài sản: 302,510 tỷ USD
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu: 9%
Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản: 10,1%
2010 là một năm nhiều biến động trên thị trường dầu lửa, nhưng giống như các “đại gia” dầu lửa khác, ExxonMobile đã đạt thành tích kinh doanh đáng nể. Chuẩn bị trước cho những thay đổi trong tương lai, ExxonMobile đang tăng đầu tư vào các loại năng lượng thay thế, nhất là khí tự nhiên.
4. BP
Vị trí xếp hạng: 4 (Vị trí xếp hạng năm 2010: 4)
CEO: Robert W. Dudley
Số nhân viên: 79.700
Quốc gia: Anh
Doanh thu năm 2010: 308,928 tỷ USD (tăng 25,5%)
Lợi nhuận năm 2010: -3,719 tỷ USD (giảm 122,4%)
Tài sản: 272,262 tỷ USD
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu: -1%
Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản: -1.4%
Thảm họa tràn dầu hồi tháng 4 năm ngoái trên Vịnh Mexico đã nhấn chìm BP. Hãng này cho biết sẽ phải huy động 30 tỷ USD để khắc phục hậu quả, và nhiều tài sản đã bị bán tháo cho mục đích này. Tuy nhiên, trong thời gian 2010-2016, BP vẫn dự định có tới 32 dự án mới.
5. Sinopec Group
Vị trí xếp hạng: 5 (Vị trí xếp hạng năm 2010: 7)
CEO: Fu Chengyu
Số nhân viên: 640.535
Quốc gia: Trung Quốc<
Doanh thu năm 2010: 273,422 tỷ USD (tăng 45,8%)
Lợi nhuận: 7,629 tỷ USD (tăng 32,5%)
Tài sản: 225,388 tỷ USD
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu: 3%
Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản: 3,4%
Là hãng khai thác và lọc hóa dầu lớn nhất của Trung Quốc, Sinopec giờ đã vươn lên ngang tầm với các tập đoàn dầu khí đa quốc gia khổng lồ. Tuy nhiên, cái khó của Sinopec so với các đối thủ nước ngoài là phải chịu áp lực từ Chính phủ Trung Quốc trong vấn đề tăng giảm giá xăng dầu trong nước. Mặc dù vậy, Sinopec đang mở rộng hoạt động ở nước ngoài, với 9 dự án ở nước ngoài ký kết trong năm 2010.
6. China National Petroleum
Vị trí xếp hạng: 6 (Vị trí xếp hạng năm 2010: 10)
CEO: Jiang Jiemin
Số nhân viên: 1.674.541
Quốc gia: Trung Quốc
Doanh thu năm 2010: 240,192 tỷ USD (tăng 45,1%)
Lợi nhuận năm 2010: 14,367 tỷ USD (tăng 39,9%)
Tài sản: 399,101 tỷ USD
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu: 6%
Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản: 3,6%
China National Petroleum tuyên bố có đủ khả năng tăng trữ lượng dầu lửa và khí đốt với tốc độ đủ để thỏa mãn cơn khát dầu của nền kinh tế lớn thứ nhì thế giới. Một phần sức mạnh của tập đoàn này xuất phát từ mối quan hệ tốt với chính phủ và các công ty đa quốc gia ở các nước nhiều dầu lửa. China National Petroleum hiện đang hợp tác chặt chẽ với Nga, Venezuela, Iraq và Qatar, cũng như BP, Total và Shell.
7. State Grid
Vị trí xếp hạng: 7 (Vị trí xếp hạng năm 2010: 8)
CEO: Liu Zhenya
Số nhân viên: 1.564.000
Quốc gia: Trung Quốc
Doanh thu năm 2010: 226,294 tỷ USD (tăng 22,7%)
Lợi nhuận năm 2010: 4,556 tỷ USD
Tài sản: 315,268 tỷ USD
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu: 2%
Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản: 1,4%
Công ty điện lực hàng đầu Trung Quốc đang phát triển mạnh cùng nhu cầu tiêu thụ năng lượng ở nước này. Thành lập năm 2002, State Grid hiện đang cung cấp năng lượng cho hơn 1 tỷ dân tại 26 tỉnh của Trung Quốc. Theo hãng nghiên cứu Pike Research, riêng trong quý 1/2011, State Grid đã mua 70% trong tổng số 17,4 triệu thiết bị đo điện thông minh được bán trên toàn cầu. Đây được xem là một nỗ lực lớn của công ty này trong việc thu thập dữ liệu tiêu thụ năng lượng của người tiêu dùng.
8. Toyota Motor
Vị trí xếp hạng: 8 (Vị trí xếp hạng năm 2010: 5)
CEO: Akio Toyoda
Số nhân viên: 317.716
Quốc gia: Nhật Bản
Doanh thu năm 2010: 221,760 tỷ USD (tăng 8,6%)
Lợi nhuận năm 2010: 4,766 tỷ USD (tăng 111,3%)
Tài sản: 359,862 tỷ USD
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu: 2%
Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản: 1,3%
“Bão” thu hồi xe đã lắng xuống, nhưng một thảm họa khác lại ập xuống với Toyota. Sản lượng của hãng đang diễn biến theo chiều hướng sụt mạnh sau vụ động đất và sóng thần lịch sử ở Nhật hồi tháng 3 vừa qua. Doanh số của Toyota tại các thị trường phát triển suy giảm trong năm 2010, nhưng với sự gia tăng doanh số ở các thị trường mới nổi, hãng vẫn tiêu thụ được hơn 7 triệu xe, tăng 71.000 xe so với năm 2009.
9. Japan Post Holdings
Vị trí xếp hạng: 9 (Vị trí xếp hạng năm 2010: 6)
CEO: Jiro Saito
Số nhân viên: 233.000
Quốc gia: Nhật Bản
Doanh thu năm 2010: 203,958 tỷ USD (tăng 0,9%)
Lợi nhuận năm 2010: 4,891 tỷ USD ( tăng 0,9%)
Tài sản: 3.535 tỷ USD
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu: 2%
Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản: 0,1%
Lần đầu Japan Post Holdings lọt vào danh sách Global 500 của Fortune là cách đây 2 năm. Tập đoàn này trải rộng trên nhiều lĩnh vực gồm ngân hàng, bảo hiểm, chuyển phát thư tín… Khó khăn mà Japan Post Holdings đang phải đối mặt bao gồm sự suy giảm trong khối lượng thư tín, tài khoản tiết kiệm và hợp đồng bảo hiểm tại thị trường trong nước.
10. Chevron
Vị trí xếp hạng: 10 (Vị trí xếp hạng năm 2010: 11)
CEO: John S. Watson
Số nhân viên: 62.196
Quốc gia: Mỹ
Doanh thu năm 2010: 196,337 tỷ USD (tăng 20,1%)
Lợi nhuận năm 2010: 19,024 tỷ USD (tăng 81,5%)
Tài sản: 184,769 tỷ USD
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu: 10%
Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản: 10,3%
Năm nay, Chevron có kế hoạch thu hẹp hoạt động ở mảng lọc hóa dầu để tập trung hơn vào việc khai thác. Hãng đang có trong tay một lượng tiền mặt dồi dào, ở mức 5,3 tỷ USD vào cuối quý 1/2011. Hồi đầu năm nay, Chevron mua lại hãng năng lượng Atlas Energy để tiếp cận với các tài sản khí đốt của hãng này ở khu vực Đông Bắc nước Mỹ. Hãng cũng kỳ vọng sẽ được phép tăng cường khai thác dầu trên Vịnh Mexico trong thời gian tới.
Theo: Vneconomy
Danh mục: admin_lcm
Giới nhà giàu thích đầu tư tiền vào đâu?
Trong báo cáo mới nhất “World Wealth Report” được Công ty tư vấn Cap Gemini và Công ty Merrill Lynch Wealth Management công bố, các đại gia, tỷ phú hiện nay khá bảo thủ trong xu hướng đầu tư. Phần lớn ưa thích đổ tiền vào những kênh ít rủi ro.
Báo cáo này cho biết, dân nhà giàu chỉ đầu tư 5% số tài sản vào kinh doanh vàng và Quỹ phòng ngừa rủi ro (Hedge fund). Tỷ lệ này đã giảm 10% so với năm 2006 và 6% so với năm 2009.
Công ty International Value Advisers khăng khăng bảo vệ quan điểm: dù ở bất cứ thời điểm nào, mỗi người nên đầu tư 5% vào vàng. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy, kể cả những người sở hữu số tài sản kếch xù vẫn không tỏ ra quá hứng thú với kênh đầu tư này.
Tỷ lệ người giàu đầu tư cho Quỹ phòng ngừa rủi ro (Hedge fund) cũng ngày càng giảm sút. Hiện, những dư chấn sót lại sau cú lừa ngoạn mục của Bernie Madoff khiến uy tín của Quỹ này bị giảm sút mạnh. Chuyên gia kinh tế John Theale, công ty Merrill Lynch cho biết, giới nhà giàu thường lắc đầu từ chối trước những sản phẩm đầu tư không đủ sức lưu động khi cần thiết.
Ngược lại, quan niệm đầu tư của giới nhà giàu lại bảo thủ tới mức đáng ngạc nhiên: 43% ưa thích những lĩnh vực ít mạo hiểm, trong đó 29% đầu tư cho trái phiếu, 14% cho tiền mặt; 33% đầu tư vào thị trường cổ phiếu, tăng khá nhiều so với năm 2008 (mức 25%) và 15 % cho bất động sản.
Trong đó, giới nhà giàu Nhật Bản được xem là bảo thủ bậc nhất với 55% tài sản đầu tư cho trái phiếu và trữ tiền mặt.
Theo: Báo Đất Việt
Thống đốc: Sẽ công khai danh tính NH không đạt dư nợ phi sản xuất 22%
(InfoTV) – Thống đốc Nguyễn Văn Giàu cho biết: “Hiện các vụ chức năng đang tổng hợp, thống kê các ngân hàng có dư nợ tín dụng phi sản xuất không đạt 22%, vào ngày 30-6″.
– Xử lý ngân hàng vượt tín dụng phi sản xuất: Khoảng 5.200 tỉ đồng bị đưa thêm vào dự trữ bắt buộc- Chưa công bố danh tính 6 ngân hàng vi phạm tỷ lệ dư nợ phi sản xuất- Siết tín dụng phi sản xuất: Tiếp tục lộ trình hạ xuống 16% vào cuối năm- Siết tín dụng phi sản xuất: Lo ngại ngân hàng tìm cách lách luật
Ngày 07/07, trao đổi với Tiền Phong, Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Giàu cho biết: “Hiện các vụ chức năng đang tổng hợp, thống kê các ngân hàng có dư nợ tín dụng phi sản xuất không đạt 22%, vào ngày 30-6.
Ngay khi có số liệu chính thức, chúng tôi sẽ công khai danh sách cho báo chí. Chính sách đã đưa ra để đảm bảo thực hiện nghiêm chứ không phải để giơ cao đánh khẽ”.
Cùng ngày, NHNN công bố dự thảo Nghị định Quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng nhận ủy thác để đầu tư, huy động lãi suất vượt trần và áp lãi suất vay vốn không phù hợp sẽ bị phạt tiền từ 70-80 triệu đồng.
InfoTV
(Theo Tiền Phong)
Khai thác khoáng sản làm lợi đến đâu?
Khai thác khoáng sản theo kiểu “dễ làm, khó bỏ”, lãng phí trong quá trình thu hồi, nguồn lợi đôi khi rơi vào một nhóm lợi ích thay vì cho cả cộng đồng do cơ chế kiểm tra giám sát của cơ quan nhà nước còn chưa chặt chẽ…
Một bản báo cáo về ngành công nghiệp khai khoáng của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), được đưa ra thảo luận ngày 14/4, đã cho thấy nhiều bất cập, thiếu bền vững tồn tại lâu nay trong ngành khai khoáng.
Đóng góp hạn chế vào tăng trưởng
Trên 5.000 mỏ, điểm quặng với hơn 60 loại khoáng sản khác nhau, trong đó một số loại khoáng sản có trữ lượng lớn tầm cỡ thế giới như bauxit, titan, đất hiếm và đá vôi…, trữ lượng tiềm năng dầu khí vào khoảng 6 tỷ tấn, khí vào khoảng 4.000 tỷ m3, đóng góp của ngành khai khoáng chiếm 10-11% GDP mỗi năm.
Không những thế, vào năm 2009, doanh thu từ xuất khẩu khoáng sản đạt khoảng 8,5 tỷ USD, trong đó từ dầu thô đạt 6,2 tỷ USD, chiếm tỷ trọng khá lớn trong thu ngân sách nhà nước, khoảng 25%.
Nếu chỉ nhìn vào các con số trên có thể thấy vai trò khá lớn của ngành khai khoáng, đặc biệt là dầu khí. Tuy nhiên, đặt trong tổng thể đóng góp đối với tăng trưởng của đất nước, góc nhìn từ VCCI cho thấy những điểm đáng chú ý khác.
Trong khi tổng vốn đầu tư cho ngành khai thác khoáng sản chiếm vị trí cao so với nhiều ngành và lĩnh vực kinh tế khác, hiệu quả đóng góp vào tăng trưởng GDP của ngành này lại chưa hẳn cao ở mức tương xứng.
Giai đoạn từ năm 2005 đến 2008, các số liệu thống kê cho thấy, tổng vốn đầu tư cho ngành khai thác đứng vị trí thứ 5/18 ngành và lĩnh vực, nhưng hiệu quả đóng góp cho nền kinh tế chỉ đứng thứ 8.
Và dù tạo được nhiều việc làm cho xã hội, so với số lượng việc làm của các ngành kinh tế khác thì số lao động làm việc trong ngành khai khoáng cũng chưa tương xứng với vốn đầu tư và chỉ đứng thứ 11/18 so với các ngành kinh tế và lĩnh vực khác.
Đáng chú ý hơn nữa, “chỉ có dưới 50% lao động trong ngành khai khoáng có việc làm ổn định trong các doanh nghiệp, số còn lại chỉ có việc làm ngắn hạn và thu nhập bấp bênh”, báo cáo nhấn mạnh.
Trái ngược với các “ưu tiên” đầu tư mà nền kinh tế dành cho ngành khai khoáng, các sản phẩm sau khai thác, chế biến còn nghèo nàn, chất lượng thấp, có giá trị thương mại không cao, dẫn đến giá trị xuất khẩu không đủ để nhập khẩu sản phẩm khoáng sản qua chế biến để phục vụ cho nền kinh tế, báo cáo lưu ý.
Mặt khác, cơ cấu doanh nghiệp ngành khai khoáng cũng là điểm đáng bàn. Do các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tham gia khai thác, chế biến khoáng sản quy mô nhỏ và trung bình và thường sử dụng công nghệ lạc hậu, “hệ lụy” là thu hồi khoáng sản thấp, lãng phí tài nguyên.
“Tình trạng dễ làm, khó bỏ, khai thác không theo quy hoạch, không theo thiết kế mặc dù đã có xu hướng giảm nhưng vẫn còn khá phổ biến”, báo cáo cho hay.
Đáng kể là hoạt động khai thác khoáng sản để lại nhiều hậu quả về mặt môi trường nhưng công tác quản lý và bảo vệ môi trường vẫn còn mang tính đối phó, hình thức, việc ký quỹ phục hồi môi trường theo quy định vẫn chưa được thực hiện triệt để, công tác quản lý, giám sát bảo vệ môi trường chưa được thực hiện đúng theo yêu cầu, vai trò giám sát của các tổ chức xã hội, cộng đồng địa phương còn nhiều hạn chế…, VCCI nêu hàng loạt những bất cập.
Chưa kể tình trạng đơn vị được cấp giấy phép khai thác nhưng không tham gia khai thác mà bán mỏ lại cho một đơn vị khai thác khác và thu lợi. Hiện tượng này, theo VCCI, khá phổ biến trong khai thác khoáng sản ở các địa phương như khai thác than ở Quảng Ninh và titan dọc ven biển miền Trung.
Loạn thu, thất thu và chi chưa minh bạch
Thống kê cho thấy, hiện có khoảng 9 loại phí và lệ khác nhau, 6 loại thuế và một số nghĩa vụ bắt buộc, hoặc trách nhiệm xã hội đang được áp dụng đối với các doanh nghiệp hoạt động khoáng sản, tùy theo việc khai thác từng loại khoáng sản, công nghệ khai thác, chế biến…
Tuy nhiên, qua điều tra nghiên cứu thì việc thu và quản lý một số các loại thuế, phí, lệ phí và các nghĩa vụ tài chính khác trên thực tế diễn ra khác khá nhiều so với quy định của pháp luật, VCCI cho hay.
Đề cập cụ thể đến trường hợp thu thuế tài nguyên, Báo cáo nêu ví dụ về mức giá để tính thuế tài nguyên than ở Quảng Ninh áp dụng cho mỗi tấn, trong khi với khoáng sản titan ở tỉnh Bình Định, việc xác định lại dựa trên mức giá hóa đơn tại thời điểm doanh nghiệp bán khoáng sản cho đối tác.
Theo VCCI, phương thức xác định giá để tính thuế tài nguyên dựa theo hóa đơn xuất của doanh nghiệp có thể dẫn tới hiện tượng doanh nghiệp khai thác khoáng sản thỏa thuận với đối tác ghi giá trên hóa đơn thấp hơn so với giá trên thị trường nhằm trốn một phần thuế tài nguyên.
“Việc doanh nghiệp tự kê khai sản lượng hàng tháng, quý cho cơ quan thuế trong khi hầu như không có cơ chế giám sát sản lượng hoặc còn rất lỏng lẻo là một kẽ hở lớn trong ngành công nghiệp khai thác, dẫn tới hậu quả không những tài nguyên khoáng sản bị thất thoát mà nhà nước còn bị thất thu thuế tài nguyên”, VCCI bình luận.
Trong khi đó, báo cáo cho rằng việc doanh nghiệp khai báo không đúng sản lượng diễn ra rất phổ biến ở nhiều địa phương để bán chênh lệch sản lượng cho các đối tượng khác gây thất thu lớn thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường…
Cũng theo VCCI, mỗi năm tỉnh Quảng Ninh thu về khoảng 290 tỷ đồng từ phí bảo vệ môi trường và được giữ lại toàn bộ dùng để chi phí cho các hoạt động bảo vệ môi trường trên địa bàn. Trong khi thu từ khoản này khá lớn, ghi nhận từ chính bản thân doanh nghiệp, VCCI cho rằng phí bảo vệ môi trường hiện nay vẫn còn thấp và thiếu công bằng giữa các loại khoáng sản khác nhau.
Một ví dụ được nêu, phí bảo vệ môi trường đối với khai thác than là 6.000 đồng/tấn, trong khi khai thác đá ốp lát phải trả phí tận 50.000 đồng/tấn, dù khai thác than được đánh giá là gây tác động tiêu cực tới môi trường lớn hơn nhiều so với khai thác đá ốp lát.
Một khoản khác gọi là “mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng” cũng được các địa phương áp dụng, mặc dù Pháp lệnh về Phí và Lệ phí cũng như Luật khoáng sản hiện hành không quy định.
Cũng do không nằm trong quy định, mỗi địa phương thu một khác. Với mỏ đồng Sinh Quyền ở Lào Cai, địa phương thu 300.000 đồng/tấn quặng đồng thô, trong khi các doanh nghiệp khai thác titan ở Bình Định có mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng là từ 80-160 triệu đồng/ha…
Tổng số tiền mà doanh nghiệp khai thác titan phải nộp riêng trên địa bàn huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định trong 2 năm (2010-2011) là 25,271 tỷ đồng, tuy nhiên số tiền thực tế mà doanh nghiệp đã nộp trong năm 2010 chỉ là 4,647 tỷ đồng, Báo cáo dẫn loạt con số đáng lưu ý khác.
Nhưng đáng lưu tâm hơn, việc sử dụng nguồn phí bảo vệ môi trường không được thông báo rộng rãi. “Điều này dẫn đến một thực tế là người dân thường đổ lỗi cho doanh nghiệp về vấn đề ô nhiễm môi trường, trong khi doanh nghiệp đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước theo quy định của pháp luật”, Báo cáo ghi nhận từ thực tế.
Thực tế khảo sát cũng đưa VCCI đến kết luận, một nguồn vốn từ phí bảo vệ môi trường đôi khi không được sử dụng đúng mục đích, chẳng hạn dùng để xây dựng cơ sở hạ tầng không mang tính chất bảo vệ môi trường…
“Việt Nam đã xây dựng được một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tương đối đầy đủ về khai thác khoáng sản, dầu khí… Tuy nhiên, đang có những khoảng cách nhất định giữa những quy định của pháp luật và thực tiễn quản lý, giữa nội dung văn bản và việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính trong lĩnh vực khai thác khoáng sản. Nhiều nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật, chưa hoặc không được thực hiện”, VCCI kết luận.
ANH QUÂN
USD hướng tới tuần thứ 3 liên tiếp tăng giá so với đồng Yên
Euro giảm giá so với tất cả các đồng tiền mạnh do lo ngại về khủng hoảng nợ có nguy cơ lan rộng.
Đồng USD chấm dứt sự sụt giảm ngày hôm qua so với đồng Euro do lo ngại số lượng công việc tăng thêm trong tháng 6 không cao như dự báo, làm gia tăng nhu cầu mua đồng USD như một tài sản trú ẩn an toàn.
USD hướng tới tuần tăng giá thứ 3 liên tiếp so với đồng Yên với triển vọng phục hồi kinh tế của Mỹ sẽ vượt qua Nhật Bản.
Đồng Euro giảm giá so với tất cả 16 đồng tiền mạnh khác với dự đoán khủng hoảng nợ sẽ lan rộng trong khu vực Eurozone.
Đồng USD giao dịch ở mức 1,4352 USD/EUR lúc 9:32 sáng ở Tokyo từ 1,4364 USD/EUR ngày hôm qua tại New York. Đồng USD đã tăng 1,2% so với Euro trong tuần này.
USD tăng lên 81,82 Yên/USD từ 81,25 Yên/USD, tăng 0,5% so với Yên trong tuần này. Đồng Euro giao dịch ở 116,66 Yên/EUR từ 116,70 Yên/EUR.
(Theo DVT)
