Khai thác khoáng sản theo kiểu “dễ làm, khó bỏ”, lãng phí trong quá trình thu hồi, nguồn lợi đôi khi rơi vào một nhóm lợi ích thay vì cho cả cộng đồng do cơ chế kiểm tra giám sát của cơ quan nhà nước còn chưa chặt chẽ…
Một bản báo cáo về ngành công nghiệp khai khoáng của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), được đưa ra thảo luận ngày 14/4, đã cho thấy nhiều bất cập, thiếu bền vững tồn tại lâu nay trong ngành khai khoáng.
Đóng góp hạn chế vào tăng trưởng
Trên 5.000 mỏ, điểm quặng với hơn 60 loại khoáng sản khác nhau, trong đó một số loại khoáng sản có trữ lượng lớn tầm cỡ thế giới như bauxit, titan, đất hiếm và đá vôi…, trữ lượng tiềm năng dầu khí vào khoảng 6 tỷ tấn, khí vào khoảng 4.000 tỷ m3, đóng góp của ngành khai khoáng chiếm 10-11% GDP mỗi năm.
Không những thế, vào năm 2009, doanh thu từ xuất khẩu khoáng sản đạt khoảng 8,5 tỷ USD, trong đó từ dầu thô đạt 6,2 tỷ USD, chiếm tỷ trọng khá lớn trong thu ngân sách nhà nước, khoảng 25%.
Nếu chỉ nhìn vào các con số trên có thể thấy vai trò khá lớn của ngành khai khoáng, đặc biệt là dầu khí. Tuy nhiên, đặt trong tổng thể đóng góp đối với tăng trưởng của đất nước, góc nhìn từ VCCI cho thấy những điểm đáng chú ý khác.
Trong khi tổng vốn đầu tư cho ngành khai thác khoáng sản chiếm vị trí cao so với nhiều ngành và lĩnh vực kinh tế khác, hiệu quả đóng góp vào tăng trưởng GDP của ngành này lại chưa hẳn cao ở mức tương xứng.
Giai đoạn từ năm 2005 đến 2008, các số liệu thống kê cho thấy, tổng vốn đầu tư cho ngành khai thác đứng vị trí thứ 5/18 ngành và lĩnh vực, nhưng hiệu quả đóng góp cho nền kinh tế chỉ đứng thứ 8.
Và dù tạo được nhiều việc làm cho xã hội, so với số lượng việc làm của các ngành kinh tế khác thì số lao động làm việc trong ngành khai khoáng cũng chưa tương xứng với vốn đầu tư và chỉ đứng thứ 11/18 so với các ngành kinh tế và lĩnh vực khác.
Đáng chú ý hơn nữa, “chỉ có dưới 50% lao động trong ngành khai khoáng có việc làm ổn định trong các doanh nghiệp, số còn lại chỉ có việc làm ngắn hạn và thu nhập bấp bênh”, báo cáo nhấn mạnh.
Trái ngược với các “ưu tiên” đầu tư mà nền kinh tế dành cho ngành khai khoáng, các sản phẩm sau khai thác, chế biến còn nghèo nàn, chất lượng thấp, có giá trị thương mại không cao, dẫn đến giá trị xuất khẩu không đủ để nhập khẩu sản phẩm khoáng sản qua chế biến để phục vụ cho nền kinh tế, báo cáo lưu ý.
Mặt khác, cơ cấu doanh nghiệp ngành khai khoáng cũng là điểm đáng bàn. Do các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tham gia khai thác, chế biến khoáng sản quy mô nhỏ và trung bình và thường sử dụng công nghệ lạc hậu, “hệ lụy” là thu hồi khoáng sản thấp, lãng phí tài nguyên.
“Tình trạng dễ làm, khó bỏ, khai thác không theo quy hoạch, không theo thiết kế mặc dù đã có xu hướng giảm nhưng vẫn còn khá phổ biến”, báo cáo cho hay.
Đáng kể là hoạt động khai thác khoáng sản để lại nhiều hậu quả về mặt môi trường nhưng công tác quản lý và bảo vệ môi trường vẫn còn mang tính đối phó, hình thức, việc ký quỹ phục hồi môi trường theo quy định vẫn chưa được thực hiện triệt để, công tác quản lý, giám sát bảo vệ môi trường chưa được thực hiện đúng theo yêu cầu, vai trò giám sát của các tổ chức xã hội, cộng đồng địa phương còn nhiều hạn chế…, VCCI nêu hàng loạt những bất cập.
Chưa kể tình trạng đơn vị được cấp giấy phép khai thác nhưng không tham gia khai thác mà bán mỏ lại cho một đơn vị khai thác khác và thu lợi. Hiện tượng này, theo VCCI, khá phổ biến trong khai thác khoáng sản ở các địa phương như khai thác than ở Quảng Ninh và titan dọc ven biển miền Trung.
Loạn thu, thất thu và chi chưa minh bạch
Thống kê cho thấy, hiện có khoảng 9 loại phí và lệ khác nhau, 6 loại thuế và một số nghĩa vụ bắt buộc, hoặc trách nhiệm xã hội đang được áp dụng đối với các doanh nghiệp hoạt động khoáng sản, tùy theo việc khai thác từng loại khoáng sản, công nghệ khai thác, chế biến…
Tuy nhiên, qua điều tra nghiên cứu thì việc thu và quản lý một số các loại thuế, phí, lệ phí và các nghĩa vụ tài chính khác trên thực tế diễn ra khác khá nhiều so với quy định của pháp luật, VCCI cho hay.
Đề cập cụ thể đến trường hợp thu thuế tài nguyên, Báo cáo nêu ví dụ về mức giá để tính thuế tài nguyên than ở Quảng Ninh áp dụng cho mỗi tấn, trong khi với khoáng sản titan ở tỉnh Bình Định, việc xác định lại dựa trên mức giá hóa đơn tại thời điểm doanh nghiệp bán khoáng sản cho đối tác.
Theo VCCI, phương thức xác định giá để tính thuế tài nguyên dựa theo hóa đơn xuất của doanh nghiệp có thể dẫn tới hiện tượng doanh nghiệp khai thác khoáng sản thỏa thuận với đối tác ghi giá trên hóa đơn thấp hơn so với giá trên thị trường nhằm trốn một phần thuế tài nguyên.
“Việc doanh nghiệp tự kê khai sản lượng hàng tháng, quý cho cơ quan thuế trong khi hầu như không có cơ chế giám sát sản lượng hoặc còn rất lỏng lẻo là một kẽ hở lớn trong ngành công nghiệp khai thác, dẫn tới hậu quả không những tài nguyên khoáng sản bị thất thoát mà nhà nước còn bị thất thu thuế tài nguyên”, VCCI bình luận.
Trong khi đó, báo cáo cho rằng việc doanh nghiệp khai báo không đúng sản lượng diễn ra rất phổ biến ở nhiều địa phương để bán chênh lệch sản lượng cho các đối tượng khác gây thất thu lớn thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường…
Cũng theo VCCI, mỗi năm tỉnh Quảng Ninh thu về khoảng 290 tỷ đồng từ phí bảo vệ môi trường và được giữ lại toàn bộ dùng để chi phí cho các hoạt động bảo vệ môi trường trên địa bàn. Trong khi thu từ khoản này khá lớn, ghi nhận từ chính bản thân doanh nghiệp, VCCI cho rằng phí bảo vệ môi trường hiện nay vẫn còn thấp và thiếu công bằng giữa các loại khoáng sản khác nhau.
Một ví dụ được nêu, phí bảo vệ môi trường đối với khai thác than là 6.000 đồng/tấn, trong khi khai thác đá ốp lát phải trả phí tận 50.000 đồng/tấn, dù khai thác than được đánh giá là gây tác động tiêu cực tới môi trường lớn hơn nhiều so với khai thác đá ốp lát.
Một khoản khác gọi là “mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng” cũng được các địa phương áp dụng, mặc dù Pháp lệnh về Phí và Lệ phí cũng như Luật khoáng sản hiện hành không quy định.
Cũng do không nằm trong quy định, mỗi địa phương thu một khác. Với mỏ đồng Sinh Quyền ở Lào Cai, địa phương thu 300.000 đồng/tấn quặng đồng thô, trong khi các doanh nghiệp khai thác titan ở Bình Định có mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng là từ 80-160 triệu đồng/ha…
Tổng số tiền mà doanh nghiệp khai thác titan phải nộp riêng trên địa bàn huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định trong 2 năm (2010-2011) là 25,271 tỷ đồng, tuy nhiên số tiền thực tế mà doanh nghiệp đã nộp trong năm 2010 chỉ là 4,647 tỷ đồng, Báo cáo dẫn loạt con số đáng lưu ý khác.
Nhưng đáng lưu tâm hơn, việc sử dụng nguồn phí bảo vệ môi trường không được thông báo rộng rãi. “Điều này dẫn đến một thực tế là người dân thường đổ lỗi cho doanh nghiệp về vấn đề ô nhiễm môi trường, trong khi doanh nghiệp đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước theo quy định của pháp luật”, Báo cáo ghi nhận từ thực tế.
Thực tế khảo sát cũng đưa VCCI đến kết luận, một nguồn vốn từ phí bảo vệ môi trường đôi khi không được sử dụng đúng mục đích, chẳng hạn dùng để xây dựng cơ sở hạ tầng không mang tính chất bảo vệ môi trường…
“Việt Nam đã xây dựng được một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tương đối đầy đủ về khai thác khoáng sản, dầu khí… Tuy nhiên, đang có những khoảng cách nhất định giữa những quy định của pháp luật và thực tiễn quản lý, giữa nội dung văn bản và việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính trong lĩnh vực khai thác khoáng sản. Nhiều nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật, chưa hoặc không được thực hiện”, VCCI kết luận.
ANH QUÂN
Danh mục: Tài chính – Khoáng sản
USD hướng tới tuần thứ 3 liên tiếp tăng giá so với đồng Yên
Euro giảm giá so với tất cả các đồng tiền mạnh do lo ngại về khủng hoảng nợ có nguy cơ lan rộng.
Đồng USD chấm dứt sự sụt giảm ngày hôm qua so với đồng Euro do lo ngại số lượng công việc tăng thêm trong tháng 6 không cao như dự báo, làm gia tăng nhu cầu mua đồng USD như một tài sản trú ẩn an toàn.
USD hướng tới tuần tăng giá thứ 3 liên tiếp so với đồng Yên với triển vọng phục hồi kinh tế của Mỹ sẽ vượt qua Nhật Bản.
Đồng Euro giảm giá so với tất cả 16 đồng tiền mạnh khác với dự đoán khủng hoảng nợ sẽ lan rộng trong khu vực Eurozone.
Đồng USD giao dịch ở mức 1,4352 USD/EUR lúc 9:32 sáng ở Tokyo từ 1,4364 USD/EUR ngày hôm qua tại New York. Đồng USD đã tăng 1,2% so với Euro trong tuần này.
USD tăng lên 81,82 Yên/USD từ 81,25 Yên/USD, tăng 0,5% so với Yên trong tuần này. Đồng Euro giao dịch ở 116,66 Yên/EUR từ 116,70 Yên/EUR.
(Theo DVT)
Úc quan tâm đến khai thác khoáng sản tại Việt Nam
TT – Chiều 13-4 tại Phủ chủ tịch, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã tiếp Ngoại trưởng Úc Kevin Rudd. Nhân dịp này, Chủ tịch nước chia sẻ với Bộ trưởng Ngoại giao Kevin Rudd và nhân dân Úc về những thiệt hại về người và tài sản sau trận lũ lụt hồi tháng 1 tại bang Queensland.
| Ông Kevin Rudd và sinh viên Đại học quốc tế RMIT – Ảnh: H.Vân |
Chiều cùng ngày, trong buổi gặp Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Ngoại trưởng Kevin Rudd bày tỏ mong muốn Việt Nam sẽ tạo các điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp của Úc sang hợp tác, đầu tư vào lĩnh vực khai thác và chế biến khoáng sản.
Trong cuộc hội đàm cùng ngày với Phó thủ tướng – Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Gia Khiêm, Ngoại trưởng Kevin Rudd khẳng định Úc sẽ tiếp tục dành ưu tiên cho Việt Nam trong viện trợ phát triển (ODA).
Cùng ngày tại TP.HCM, ông Kevin Rudd đã đến thăm Trung tâm Phục hồi chức năng TP.HCM và công bố ủng hộ 4 triệu đôla Úc (gần 4,2 triệu USD) trong bốn năm để giúp đỡ nạn nhân của bom mìn tại Việt Nam. Ông Rudd cũng đến thăm Đại học quốc tế RMIT và dự buổi lễ khánh thành khu liên hợp thể thao – sự kiện và khu ký túc xá của trường sáng 13-4.
Ông khẳng định giáo dục là một trong những lĩnh vực Úc rất quan tâm trong quan hệ hợp tác với Việt Nam. Mỗi năm, Chính phủ Úc cấp 400 học bổng du học sau đại học tại Úc cho sinh viên Việt Nam. Hiện có 26.000 du học sinh Việt Nam đang học tập tại Úc.
Đây là chuyến thăm Việt Nam đầu tiên của ông Rudd trong vai trò ngoại trưởng. Trước đó, ông Rudd là thủ tướng Úc từ cuối năm 2007 đến giữa năm 2010.
TTXVN – H.G. – H.V.
Đại diện 11 quốc gia dự hội nghị quốc tế về khoáng sản ở Việt Nam
Bộ Tài nguyên và Môi trường vừa phối hợp với Tạp chí Khoáng sản quốc tế Metalbual tổ chức Hội nghị quốc tế về khoáng sản ở Việt Nam. Hơn 200 đại biểu của 11 quốc gia đã tham dự. Đây là cơ hội cho các nhà khoa học và nhà đầu tư quốc tế hiểu rõ thêm về tiềm năng khoáng sản của Việt Nam, qua đó đầu tư hiệu quả hơn trong lĩnh vực khoáng chất công nghiệp.
Phát biểu tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Linh Ngọc cho biết: Việt Nam có nhiều tài nguyên khoáng sản khác nhau như Vonfram, Chì kẽm, Đá vôi, Ti tan, Đồng, Mangan, Sắt, Apatít… Đây là tiềm năng lớn của Việt Nam nhưng chưa được khai thác hiệu quả. Do vậy, Việt Nam luôn mong muốn được cộng tác với các chuyên gia, các nhà đầu tư nước ngoài để có những công nghệ mới nhằm khai thác hiệu quả hơn nữa tài nguyên khoáng sản hiện có, đồng thời giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm môi trường đang gia tăng, giúp Việt Nam phát triển trong ngành công nghiệp khai khoáng theo hướng hiện đại.
Tại Hội nghị, các nhà khoa học và các nhà đầu tư quốc tế cũng đã đưa ra nhiều ý kiến đóng góp trong lĩnh vực phát triển khoáng chất công nghiệp tại Việt Nam, đặc biệt là vấn đề chính sách thu hút các nhà đầu tư vào khai thác; mong muốn Luật Khoáng sản của Việt Nam sẽ có sự đồng bộ với Luật Khoáng sản quốc tế…
TTX
Tiêu cực khai thác khoáng sản là do cơ chế!
Nói về những ‘lỗ hổng’ trong quá trình cấp phép mỏ khoáng sản, ông Nguyễn Đình Chi, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An cho rằng: “Cơ chế hở thì xảy ra tiêu cực. Nhiều cửa, thủ tục lằng nhằng cũng dễ phát sinh tiêu cực”.
Buông lỏng cấp phép, chỉ rút kinh nghiệm?
|
|
– Nghệ An là vùng có nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng và khá dồi dào. Vậy, tỉnh đã tiến hành quản lý như thế nào để không lãng phí nguồn tài nguyên?
|
| Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An, ông Nguyễn Đình Chi. |
Vấn đề này tỉnh Nghệ An đã ban hành nhiều công văn trên cơ sở các văn bản của Trung ương gồm: Nhiều công văn, chỉ thị, quyết định,… Đặc thù ở Nghệ An là một tỉnh có diện tích lớn, địa hình đồi núi dốc phức tạp. Do vậy nên dễ xảy ra những vụ tai nạn lao động.
– Như ông nói, tỉnh Nghệ An đã ban hành nhiều văn bản, chị thị, công văn. Vậy kết quả đạt được như thế nào?
Về mặt khoáng sản thì Nghệ An đã ban hành các văn bản tương đối chặt chẽ. Kết quả của nó về mặt cấp phép theo đúng quy định. Vấn đề là khai thác khoáng sản trái phép thì Nghệ An vẫn còn nhiều tồn tại. Hễ khi nào giá cả các loại tài nguyên tăng lên là người dân đổ xô đi khai thác.
– Thưa ông, trong nội dung cấp phép khai thác mỏ, vấn đề mặt trái nổi cộm lên là gì?
Cấp phép thì cơ bản theo quy trình. Sau kết luận của Thanh tra Chính phủ thì chúng tôi đã rút kinh nghiệm để soạn ra các công điện, văn bản, để thực hiện kết luận của đoàn thanh tra, báo cáo Thủ tướng Chính phủ nhằm hạn chế tiêu cực trong cấp phép, khai thác, chế biến khoáng sản.
|
| Nhức nhối khai thác khoáng sản tại Nghệ An. |
– Trong năm 2009 – 2010, đoàn Thanh tra Chính phủ có tiến hành kiểm tra và phát hiện có hàng chục giấy phép tỉnh Nghệ An cấp không đúng quy trình. Sau đó thì tỉnh đã rút ra được những kinh nghiệm gì?
Sau khi có kết luận của Thanh tra Chính phủ thì chúng tôi không bình luận. Nhưng trong 54 mỏ mà đoàn thanh tra kết luận chưa được (kết luận là cấp phép mỏ sai quy trình – PV), chúng tôi đã thực hiện đình chỉ hoạt động 54 mỏ này. Kết luận của thanh tra chưa chính xác và không thỏa đáng.
– Vậy tỉnh đã rút ra những kinh nghiệm gì?
Trước hết là mình phải chọn nhà đầu tư có năng lực, tuy nhiên, quy trình chọn nhà đầu tư cũng rất phức tạp; xây dựng các quy trình cấp phép đơn giản hơn và tăng cường công tác kiểm tra của các sở ngành liên quan.
– Có ý kiến cho rằng, việc cấp giấy phép khai thác TNTN phải đi qua rất nhiều cửa, mất nhiều thời và nhiều giấy tờ. Đây có phải là ‘lỗ hổng’ để các cơ quan chức năng ‘bắt tay’ với doanh nghiệp. Ý kiến của ông thế nào?
Như anh biết cấp phép thì qua quá nhiều quy trình như khảo sát, xin giấy phép. Để làm tốt vấn đề này thì bản thân Trung ương phải vào cuộc làm rõ khi ban hành vùng quy hoạch các loại khoáng sản, vùng cấm hoạt động khoáng sản.
Tiêu cực là do cơ chế?
– Vừa rồi, VietNamNet có phản ánh loạt bài về tình trạng chạy giấy phép khai thác mỏ. Đây là một điều có thật. Vậy phía tỉnh đã tiếp thu ý kiến phản ánh của báo như thế nào và đã có chỉ đạo gì để thắt chặt công tác quản lý, cấp phép mỏ khai thác khoáng sản chưa, thưa ông?
Tại vì những quy định của Trung ương về vấn đề khai thác khoáng sản chưa chặt chẽ. Nên sinh ra nhiều vấn đề có thể tiêu cực xảy ra. Còn mức độ như thế nào thì mình không nắm được con số cụ thể, là ai, là người nào? Để giải quyết vấn đề tiêu cực này thì tỉnh Nghệ An đã triển khai hàng loạt vấn đề để giảm các thủ tục, bớt các đầu mối xin giấy phép.
– Có nghĩa là ông khẳng định vấn đề tiêu cực trong việc chạy giấy phép khai thác mỏ là có. Và lỗ hổng của nó là do thủ tục cấp phép quá lòng vòng và đi qua nhiều cung đoạn?
Tiêu cực thì tôi không dám khẳng định, nhưng cơ chế mà hở thì xảy ra tiêu cực, mà nhiều cửa thì phát sinh tiêu cực.
Nếu mà làm một cửa liên thông thì đỡ hơn tiêu cực. Vì nhiều cửa thì anh quyền này, anh quyền kia nên dễ xảy ra tiêu cực. Sắp tới có đấu thầu thì sẽ giảm bớt tiêu cực. Nhưng đấu thầu cũng không đơn giản vì có thể xảy ra tình trạng thông thầu, lúc đó lại phát sinh tiêu cực.
|
| Khai thác đá trắng tại miền Tây Nghệ An. |
– Nhiều doanh nghiệp đi xin giấy phép khai thác mỏ cho rằng, trong các ‘cửa ải’ thì UBND tỉnh và Sở TN-MT là ‘khó’ nhất. Vậy ý kiến của ông như thế nào?
Họ nói như vậy là không chuẩn xác! Vấn đề là doanh nghiệp nào nói, có ai?
– Như ông nói ban đầu, chính vì nhiều cửa nên xảy ra tiêu cực. Vậy theo ông tiêu cực xảy ra ở đoạn nào trong quy trình cấp phép khai thác mỏ?
Tức là xảy ra ở nhiều đoạn. Do bản thân người đi làm muốn mau. Ví dụ: Để xin được cái giấy 5 ngày mới được thì anh chỉ muốn xin trong 1 ngày. Rõ ràng là anh ‘sinh chuyện’ với người ta, các anh còn hối lộ người ta để được làm nhanh (người ta là các cơ quan chức năng – PV). Việc này giai đoạn nào cũng có thể có nếu người xử lý không tốt và người xin vấn đề đó không tốt. Đây là anh tạo ra lì xì cho tôi.
– Trên thế giới, một số nước như Indonexia, một số tỉnh giàu tài nguyên lại là những tỉnh nghèo nhất. Thế nhưng, những nước như Na Uy thì họ lại làm giàu từ nguồn tài nguyên của mình. Việt Nam cũng vậy, một số địa phương như Cao Bằng, Bắc Cạn, dù giàu tài nguyên nhưng đời sống địa phương chỉ ở mức yếu kém. Vậy Nghệ An có chiến lược gì để phát triển bền vững, nhất là trong lĩnh vực khai thác và chế biến khoáng sản?
Vấn đề này là do quan điểm của người sử dụng, nếu anh sử dụng không tốt thì huỷ hoại môi trường. Trước hết là anh chọn nhà đầu tư không tốt, đánh giá không đúng thì nguồn thu thuế không chuẩn. Sắp tới thì phần cấp phép chủ yếu là Trung ương, còn giao cho địa phương thì nhỏ lẻ.
Tôi cho rằng, nếu Nghệ An biết phát huy tốt thì nguồn tài nguyên vật liệu phải xây dựng khu tập trung, tạo ra các Nhà máy xi măng thì tạo ra nguồn nhân công lao lao động có việc làm và đóng thuế cho Nhà nước.
Như Nghệ An, có mỏ lớn là thiếc và Cao Bằng, Bắc Cạn thì cũng phải xin phép Chính phủ. Còn ở Nghệ An chỉ có đá xây dựng là tỉnh cấp hoàn toàn. Để làm tốt hơn thì phải có quy hoạch, nhưng ở ta có cái là hay điều chỉnh quy hoạch. Đó là khuyết điểm phát sinh tiêu cực.
– Xin cám ơn ông!
Quốc Huy – Hoàng Sang (thực hiện)
