Giới thiệu công ty

Lịch sử hình thành và phát triển:

altCông ty CP Khai thác và Chế biến khoáng sản Lào Cai tiền thân là Công ty TNHH Gia Long được thành lập từ năm 2002, sau đó được đổi tên thành Công ty CP Khai thác và Chế biến khoáng sản Lào Cai .Trải qua 9 năm hình thành và phát triển, Công ty Cổ phần Khai thác và Chế biến Khoáng sản Lào Cai đã luôn luôn phát huy thế mạnh từ các mỏ khoáng sản giàu tài nguyên. Công ty tự hào là một trong những Công ty khai khoáng hàng đầu trong ngành khai thác và chế biến khoáng sản tại Việt Nam.

Các lĩnh vực hoạt động của Công ty luôn đạt được hiểu quả cao về kinh doanh và tài chính, mang lại cho các cổ đông giá trị đầu tư cao và bền vững. Các sản phẩm của Công ty đã tạo dựng uy tín với các bạn hàng quốc tế và trong nước. Công ty là một trong những công ty tư nhân luôn hoàn thành xuất sắc các nghĩa vụ đối với nhà nước, đóng góp nguồn thu cho địa phương tại các tỉnh thành mà Công ty hoạt động gồm tỉnh Lào Cai, Lai Châu và Hòa Bình

Các hoạt động chính của Công ty:

– Thăm dò khai thác và chế biến khoáng sản chì kẽm

– Khai thác và chế biến vàng gốc, vàng sa khoáng

– Buôn bán kim loại màu, vật liệu xây dựng, hóa chất và phân bón

Các sản phẩm truyền thống của Công ty bao gồm:

– Tinh quặng chì kẽm Pb, Zn> 55%
– Vàng thương phẩm 99,9%
– Tinh quặng sắt kích cỡ từ 0.1mm đến 1mm
– Đá xây dựng các loại
– Phân bón và hóa chất ( soda, kẽm sunfat, đồng sunfat)

Kinh tế Mỹ sẽ còn trì trệ kéo dài

Sự phục hồi chậm chạp của nền kinh tế Mỹ sẽ còn kéo dài trong nhiều năm tới do nợ của các hộ gia đình, hệ thống tài chính vẫn bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng thế chấp, lòng tin còn mong manh và chính phủ không có nhiều sự chọn để hỗ trợ tăng trưởng.
Theo New York Times, tất cả các chỉ số như tăng trưởng việc làm, tỷ lệ thất nghiệp, cho vay của ngân hàng, sản lượng của nền kinh tế, tăng trưởng thu nhập, giá nhà ở và hy vọng của các gia đình về tình hình tài chính đều cho thấy mức độ cải thiện của nền kinh tế kể từ tháng 6/2009 là xấu nhất kể từ khi chính phủ Mỹ bắt đầu theo dõi các chỉ số này từ sau Chiến tranh thế giới thứ II.
Có một số điểm sáng như xuất khẩu – đặc biệt là xuất khẩu hàng hóa và nông sản – được cải thiện một phần nhờ sự bùng nổ của các nền kinh tế đang phát triển và việc đồng USD yếu hơn. Sự phục hồi này dự kiến sẽ tiếp tục tăng tốc trong nửa cuối năm 2011 do tác động của thảm họa động đất và sóng thần của Nhật Bản giảm dần. Tuy nhiên, những khó khăn chung sẽ tiếp tục kìm hãm sự phục hồi của kinh tế Mỹ.
Các ngân hàng không có khả năng hoặc không muốn cho vay nhiều hơn so với trước suy thoái. Trong khi đó, các nhà hoạch định chính sách lại không muốn tiếp tục kích thích tăng trưởng kinh tế. Cục Dự trữ liên bang (FED) đã hạ lãi suất ngắn hạn về mức gần bằng không. Hai vòng nới lỏng định lượng (QE) với việc mua 1.425 tỷ USD trái phiếu thế chấp và 900 tỷ USD trái phiếu chính phủ đã giúp ổn định nền kinh tế nhưng không giúp kinh tế phục hồi mạnh.
Tương tự, kích thích tài chính dưới dạng miễn giảm thuế được những người Cộng hòa yêu thích hay tăng chi tiêu được phe Dân chủ ủng hộ đều khó có thể tiếp tục do thâm hụt ngân sách lớn và kết quả đáng thất vọng của những nỗ lực trước đây như gói kích thích 830 tỷ USD do Tổng thống Barack Obama đưa ra năm 2009.
Tuy nhiên, vấn đề nghiêm trọng nhất có lẽ là việc các hộ gia đình vẫn ngập trong nợ nần. Lúc kinh tế bùng nổ đỉnh điểm hồi quý 3/2007, các hộ gia đình Mỹ đã vay 127% thu nhập cả năm để mua nhà, ô tô và các hàng hóa khác, cao hơn mức trung bình 84% trong thập niên 90 của thế kỷ trước. Để tỷ lệ nợ trên thu nhập về mức 84%, các hộ gia đình phải trả 3.300 tỷ USD tiền nợ hoặc thu nhập của họ phải tăng thêm 3.900 tỷ USD – tương đương với tốc độ tăng trưởng thu nhập của 9 năm trong điều kiện bình thường.
Nợ và thị trường việc làm ảm đạm ảnh hưởng đến lòng tin và khả năng chi tiêu của người tiêu dùng. Chỉ có 24% hộ gia đình hy vọng tình hình tài chính sẽ cải thiện trong vòng một năm. Đây là mức thấp nhất trong thời điểm phục hồi kinh tế yếu kể từ sau Chiến tranh Thế giới lần thứ II.
Theo: Tamnhin.net

10 doanh nghiệp lớn nhất thế giới.

Tạp chí Fortune của Mỹ vừa công bố danh sách thường niên 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới (Global 500). “Đế chế” bán lẻ Wal-Mart vẫn đứng đầu bảng, nhưng dầu lửa mới là ngành công nghiệp chiếm ưu thế tuyệt đối trong top 10.
Đáng chú ý, Trung Quốc đóng góp tới 3 cái tên trong số 10 doanh nghiệp lớn nhất, trong khi Nhật Bản chỉ có 2 công ty lọt vào nhóm này.
Dưới đây là 10 công ty dẫn đầu Global 500 năm 2011:
1. Wal-Mart
Vị trí xếp hạng: 1 (Vị trí xếp hạng năm 2010: 1)
CEO: Michael T. Duke
Số nhân viên: 2.100.000
Quốc gia: Mỹ
Doanh thu năm 2010: 421,849 tỷ USD (tăng 3,3% so với 2009)
Lợi nhuận: 16,389 tỷ USD (tăng 14,3% so với 2009)
Tài sản: 180,663 tỷ USD
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu: 4%
Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản: 9,1%
Đây là năm thứ hai liên tục Wal-Mart chiếm ngôi đầu của danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất nước Mỹ (Fortune 500) và cả Global 500. Wal-Mart được đánh giá cao ở mục tiêu theo đuổi sự phát triển doanh nghiệp bền vững, nhưng cũng bị cho là phân biệt đối xử với nhân viên nữ và đang dính đơn kiện liên quan tới vấn đề này. Kinh tế Mỹ khó khăn đang gây trở ngại cho Wal-Mart, với doanh thu các cửa hàng Wal-Mart tại thị trường Mỹ giảm quý thứ 8 liên tục.
2. Royal Dutch Shell
Vị trí xếp hạng: 2 (Vị trí xếp hạng năm 2010: 2)
CEO: Peter R. Voser
Số nhân viên: 97.000
Quốc gia: Hà Lan
Doanh thu năm 2010: 378,152 tỷ USD (tăng 32,6%)
Lợi nhuận năm 2010: 20,127 tỷ USD (tăng 60,8%)
Tài sản: 322,56 tỷ USD
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu: 5%
Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản: 6,2%
Từ đầu năm tới nay, giá cổ phiếu của Shell đã tăng 7,2%. Trong bối cảnh dầu lửa ngày càng khó tìm, Shell đang thúc đẩy lĩnh vực năng lượng thay thế, tiêu biểu là vụ hợp tác với công ty xăng sinh học Cosan của Brazil hồi năm ngoái. Shell còn đang phát triển công nghệ để xây dựng nhà máy khí hóa lỏng nổi trên biển đầu tiên nhằm đạt lợi thế khi tiếp cận các mỏ dầu ở vùng nước sâu.
3. ExxonMobile
Vị trí xếp hạng: 3 (Vị trí xếp hạng năm 2010: 3)
CEO: Rex W. Tillerson
Số nhân viên: 103.700
Quốc gia: Mỹ
Doanh thu năm 2010: 354,674 tỷ USD (tăng 24,6%)
Lợi nhuận năm 2010: 30,46 tỷ USD (tăng 58%)
Tài sản: 302,510 tỷ USD
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu: 9%
Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản: 10,1%
2010 là một năm nhiều biến động trên thị trường dầu lửa, nhưng giống như các “đại gia” dầu lửa khác, ExxonMobile đã đạt thành tích kinh doanh đáng nể. Chuẩn bị trước cho những thay đổi trong tương lai, ExxonMobile đang tăng đầu tư vào các loại năng lượng thay thế, nhất là khí tự nhiên.
4. BP
Vị trí xếp hạng: 4 (Vị trí xếp hạng năm 2010: 4)
CEO: Robert W. Dudley
Số nhân viên: 79.700
Quốc gia: Anh
Doanh thu năm 2010: 308,928 tỷ USD (tăng 25,5%)
Lợi nhuận năm 2010: -3,719 tỷ USD (giảm 122,4%)
Tài sản: 272,262 tỷ USD
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu: -1%
Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản: -1.4%
Thảm họa tràn dầu hồi tháng 4 năm ngoái trên Vịnh Mexico đã nhấn chìm BP. Hãng này cho biết sẽ phải huy động 30 tỷ USD để khắc phục hậu quả, và nhiều tài sản đã bị bán tháo cho mục đích này. Tuy nhiên, trong thời gian 2010-2016, BP vẫn dự định có tới 32 dự án mới.
5. Sinopec Group
Vị trí xếp hạng: 5 (Vị trí xếp hạng năm 2010: 7)
CEO: Fu Chengyu
Số nhân viên: 640.535
Quốc gia: Trung Quốc<
Doanh thu năm 2010: 273,422 tỷ USD (tăng 45,8%)
Lợi nhuận: 7,629 tỷ USD (tăng 32,5%)
Tài sản: 225,388 tỷ USD
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu: 3%
Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản: 3,4%
Là hãng khai thác và lọc hóa dầu lớn nhất của Trung Quốc, Sinopec giờ đã vươn lên ngang tầm với các tập đoàn dầu khí đa quốc gia khổng lồ. Tuy nhiên, cái khó của Sinopec so với các đối thủ nước ngoài là phải chịu áp lực từ Chính phủ Trung Quốc trong vấn đề tăng giảm giá xăng dầu trong nước. Mặc dù vậy, Sinopec đang mở rộng hoạt động ở nước ngoài, với 9 dự án ở nước ngoài ký kết trong năm 2010.
6. China National Petroleum
Vị trí xếp hạng: 6 (Vị trí xếp hạng năm 2010: 10)
CEO: Jiang Jiemin
Số nhân viên: 1.674.541
Quốc gia: Trung Quốc
Doanh thu năm 2010: 240,192 tỷ USD (tăng 45,1%)
Lợi nhuận năm 2010: 14,367 tỷ USD (tăng 39,9%)
Tài sản: 399,101 tỷ USD
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu: 6%
Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản: 3,6%
China National Petroleum tuyên bố có đủ khả năng tăng trữ lượng dầu lửa và khí đốt với tốc độ đủ để thỏa mãn cơn khát dầu của nền kinh tế lớn thứ nhì thế giới. Một phần sức mạnh của tập đoàn này xuất phát từ mối quan hệ tốt với chính phủ và các công ty đa quốc gia ở các nước nhiều dầu lửa. China National Petroleum hiện đang hợp tác chặt chẽ với Nga, Venezuela, Iraq và Qatar, cũng như BP, Total và Shell.
7. State Grid
Vị trí xếp hạng: 7 (Vị trí xếp hạng năm 2010: 8)
CEO: Liu Zhenya
Số nhân viên: 1.564.000
Quốc gia: Trung Quốc
Doanh thu năm 2010: 226,294 tỷ USD (tăng 22,7%)
Lợi nhuận năm 2010: 4,556 tỷ USD
Tài sản: 315,268 tỷ USD
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu: 2%
Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản: 1,4%
Công ty điện lực hàng đầu Trung Quốc đang phát triển mạnh cùng nhu cầu tiêu thụ năng lượng ở nước này. Thành lập năm 2002, State Grid hiện đang cung cấp năng lượng cho hơn 1 tỷ dân tại 26 tỉnh của Trung Quốc. Theo hãng nghiên cứu Pike Research, riêng trong quý 1/2011, State Grid đã mua 70% trong tổng số 17,4 triệu thiết bị đo điện thông minh được bán trên toàn cầu. Đây được xem là một nỗ lực lớn của công ty này trong việc thu thập dữ liệu tiêu thụ năng lượng của người tiêu dùng.
8. Toyota Motor
Vị trí xếp hạng: 8 (Vị trí xếp hạng năm 2010: 5)
CEO: Akio Toyoda
Số nhân viên: 317.716
Quốc gia: Nhật Bản
Doanh thu năm 2010: 221,760 tỷ USD (tăng 8,6%)
Lợi nhuận năm 2010: 4,766 tỷ USD (tăng 111,3%)
Tài sản: 359,862 tỷ USD
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu: 2%
Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản: 1,3%
“Bão” thu hồi xe đã lắng xuống, nhưng một thảm họa khác lại ập xuống với Toyota. Sản lượng của hãng đang diễn biến theo chiều hướng sụt mạnh sau vụ động đất và sóng thần lịch sử ở Nhật hồi tháng 3 vừa qua. Doanh số của Toyota tại các thị trường phát triển suy giảm trong năm 2010, nhưng với sự gia tăng doanh số ở các thị trường mới nổi, hãng vẫn tiêu thụ được hơn 7 triệu xe, tăng 71.000 xe so với năm 2009.
9. Japan Post Holdings
Vị trí xếp hạng: 9 (Vị trí xếp hạng năm 2010: 6)
CEO: Jiro Saito
Số nhân viên: 233.000
Quốc gia: Nhật Bản
Doanh thu năm 2010: 203,958 tỷ USD (tăng 0,9%)
Lợi nhuận năm 2010: 4,891 tỷ USD ( tăng 0,9%)
Tài sản: 3.535 tỷ USD
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu: 2%
Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản: 0,1%
Lần đầu Japan Post Holdings lọt vào danh sách Global 500 của Fortune là cách đây 2 năm. Tập đoàn này trải rộng trên nhiều lĩnh vực gồm ngân hàng, bảo hiểm, chuyển phát thư tín… Khó khăn mà Japan Post Holdings đang phải đối mặt bao gồm sự suy giảm trong khối lượng thư tín, tài khoản tiết kiệm và hợp đồng bảo hiểm tại thị trường trong nước.
10. Chevron
Vị trí xếp hạng: 10 (Vị trí xếp hạng năm 2010: 11)
CEO: John S. Watson
Số nhân viên: 62.196
Quốc gia: Mỹ
Doanh thu năm 2010: 196,337 tỷ USD (tăng 20,1%)
Lợi nhuận năm 2010: 19,024 tỷ USD (tăng 81,5%)
Tài sản: 184,769 tỷ USD
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu: 10%
Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản: 10,3%
Năm nay, Chevron có kế hoạch thu hẹp hoạt động ở mảng lọc hóa dầu để tập trung hơn vào việc khai thác. Hãng đang có trong tay một lượng tiền mặt dồi dào, ở mức 5,3 tỷ USD vào cuối quý 1/2011. Hồi đầu năm nay, Chevron mua lại hãng năng lượng Atlas Energy để tiếp cận với các tài sản khí đốt của hãng này ở khu vực Đông Bắc nước Mỹ. Hãng cũng kỳ vọng sẽ được phép tăng cường khai thác dầu trên Vịnh Mexico trong thời gian tới.
Theo: Vneconomy

Giới nhà giàu thích đầu tư tiền vào đâu?

Trong báo cáo mới nhất “World Wealth Report” được Công ty tư vấn Cap Gemini và Công ty Merrill Lynch Wealth Management công bố, các đại gia, tỷ phú hiện nay khá bảo thủ trong xu hướng đầu tư. Phần lớn ưa thích đổ tiền vào những kênh ít rủi ro.
Báo cáo này cho biết, dân nhà giàu chỉ đầu tư 5% số tài sản vào kinh doanh vàng và Quỹ phòng ngừa rủi ro (Hedge fund). Tỷ lệ này đã giảm 10% so với năm 2006 và 6% so với năm 2009.
Công ty International Value Advisers khăng khăng bảo vệ quan điểm: dù ở bất cứ thời điểm nào, mỗi người nên đầu tư 5% vào vàng. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy, kể cả những người sở hữu số tài sản kếch xù vẫn không tỏ ra quá hứng thú với kênh đầu tư này.
Tỷ lệ người giàu đầu tư cho Quỹ phòng ngừa rủi ro (Hedge fund) cũng ngày càng giảm sút. Hiện, những dư chấn sót lại sau cú lừa ngoạn mục của Bernie Madoff khiến uy tín của Quỹ này bị giảm sút mạnh. Chuyên gia kinh tế John Theale, công ty Merrill Lynch cho biết, giới nhà giàu thường lắc đầu từ chối trước những sản phẩm đầu tư không đủ sức lưu động khi cần thiết.
Ngược lại, quan niệm đầu tư của giới nhà giàu lại bảo thủ tới mức đáng ngạc nhiên: 43% ưa thích những lĩnh vực ít mạo hiểm, trong đó 29% đầu tư cho trái phiếu, 14% cho tiền mặt; 33% đầu tư vào thị trường cổ phiếu, tăng khá nhiều so với năm 2008 (mức 25%) và 15 % cho bất động sản.
Trong đó, giới nhà giàu Nhật Bản được xem là bảo thủ bậc nhất với 55% tài sản đầu tư cho trái phiếu và trữ tiền mặt.

Theo: Báo Đất Việt

Thống đốc: Sẽ công khai danh tính NH không đạt dư nợ phi sản xuất 22%

(InfoTV) – Thống đốc Nguyễn Văn Giàu cho biết: “Hiện các vụ chức năng đang tổng hợp, thống kê các ngân hàng có dư nợ tín dụng phi sản xuất không đạt 22%, vào ngày 30-6″.

– Xử lý ngân hàng vượt tín dụng phi sản xuất: Khoảng 5.200 tỉ đồng bị đưa thêm vào dự trữ bắt buộc- Chưa công bố danh tính 6 ngân hàng vi phạm tỷ lệ dư nợ phi sản xuất- Siết tín dụng phi sản xuất: Tiếp tục lộ trình hạ xuống 16% vào cuối năm- Siết tín dụng phi sản xuất: Lo ngại ngân hàng tìm cách lách luật

Ngày 07/07, trao đổi với Tiền Phong, Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Giàu cho biết: “Hiện các vụ chức năng đang tổng hợp, thống kê các ngân hàng có dư nợ tín dụng phi sản xuất không đạt 22%, vào ngày 30-6.

Ngay khi có số liệu chính thức, chúng tôi sẽ công khai danh sách cho báo chí. Chính sách đã đưa ra để đảm bảo thực hiện nghiêm chứ không phải để giơ cao đánh khẽ”.

Cùng ngày, NHNN công bố dự thảo Nghị định Quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng nhận ủy thác để đầu tư, huy động lãi suất vượt trần và áp lãi suất vay vốn không phù hợp sẽ bị phạt tiền từ 70-80 triệu đồng.
InfoTV
(Theo Tiền Phong)